Skip Ribbon Commands
Skip to main content
Cổng thông tin điện tử Bắc Kạn kính chào quý khách! Trang chủ Góp ý Sơ đồ trang Liên hệ

Bắc Kạn: Miền đất giàu tiềm năng phát triển kinh tế - xã hội

(Cập nhật lúc: 07/10/2012 08:30:56 )

Bắc Kạn là tỉnh miền núi, nội địa, nằm ở vùng Đông Bắc Việt Nam, giáp với 4 tỉnh: Cao Bằng, Lạng Sơn, Thái Nguyên và Tuyên Quang. Tỉnh được tái lập ngày 01 tháng 01 năm 1997, hiện có 8 đơn vị hành chính (7 huyện, 1 thị xã) với 122 xã, phường, thị trấn. Diện tích đất tự nhiên 4.859 km2, dân số 300.000 người, gồm 7 dân tộc anh em (Tày, Nùng, Kinh, Dao, Mông, Hoa và Sán Chay) sinh sống, trong đó dân tộc thiểu số chiếm hơn 80%. 

 Thị xã Bắc Kạn (ảnh tư liệu)

I. Miền đất giàu tiềm năng phát triển

Bắc Kạn được tự nhiên ưu đãi cho nhiều tiềm năng phát triển kinh tế xã hội với nguồn tài nguyên rừng, đất rừng, khoáng sản phong phú và vườn Quốc gia Ba Bể, nơi có hồ Ba Bể - một trong 20 hồ nước ngọt lớn trên thế giới…

Tiềm năng phát triển công nghiệp

Tỉnh Bắc Kạn có tiềm năng phát triển công nghiệp khai thác nông lâm sản dựa trên lợi thế về rừng. Khu công nghiệp Thanh Bình thuộc địa bàn xã Thanh Bình huyện Chợ Mới, nằm dọc trên trục đường QL3 cách trung tâm Hà Nội 130km là nơi đáp ứng nhu cầu của các nhà đầu tư vào tỉnh, đặc biệt là vào lĩnh vực công nghiệp khai thác nông lâm sản. Hiện nay, nhà máy chế biến gỗ Sahabak tại Khu công nghiệp đã cho sản phẩm ổn định, giải quyết việc làm cho gần 500 công nhân với thu nhập bình quân đầu người trên 3 triệu đồng/tháng. Giá trị sản xuất công nghiệp đạt khá đã đóng góp lớn cho sự phát triển lĩnh vực công nghiệp của tỉnh. Khu Công nghiệp Thanh Bình được kỳ vọng sẽ thúc đẩy tăng trưởng kinh tế và chuyển dịch cơ cấu kinh tế, giải quyết việc làm cho người lao động, tạo động lực, môi trường thu hút các dự án đầu tư, phát huy tiềm năng thế mạnh của tỉnh.

Bắc Kạn còn có tiềm năng phát triển công nghiệp khai thác và chế biến khoáng sản, vật liệu xây dựng. Trên địa bàn tỉnh có 165 mỏ và điểm quặng, các loại khoáng sản có trữ lượng lớn là: Chì kẽm 70 mỏ và điểm quặng, trữ lượng khoảng 4 triệu tấn; sắt có 13 mỏ và điểm mỏ, trữ lượng khoảng 22 triệu tấn; vàng có 17 mỏ và điểm quặng, trữ lượng khoảng 39 tấn; đá vôi xi măng 150 triệu m3; đá trắng, thạch anh khoảng 460 triệu m3; sét xi măng trên 10 triệu m3, ngoài ra còn có antimon, titan, Kaolin, Silic....

Hiện nay đã có một số doanh nghiệp đầu tư xây dựng Nhà máy chế biến quặng chì kẽm ở quy mô nhỏ, sản phẩm mới chỉ đạt ở mức tinh quặng chì kẽm và chưa luyện được thành kẽm thỏi có hàm lượng cao. 

Với trữ lượng khoáng sản lớn, Bắc Kạn có triển vọng đầu tư chế biến sâu ở quy mô vừa và nhỏ để nâng giá trị các loại khoáng sản lên cao hơn và tốt hơn phục vụ cho các ngành công nghiệp trong nước và tiến đến xuất khẩu. Đặc biệt là ngành sản xuất vật liệu xây dựng như: Xi măng, đá ốp lát, bột đá công nghiệp, rất có triển vọng ở Bắc Kạn.

Ngoài ra, trên địa bàn tỉnh Bắc Kạn còn có nhiều hệ suối là đầu nguồn sông Đáy, sông Gâm, sông Chu… lưu vực nhỏ, độ dốc dòng chảy lớn, lòng hẹp và có nhiều thác ghềnh thuận tiện cho việc đầu tư các công trình thuỷ điện nhỏ.

Tiềm năng phát triển nông lâm nghiệp

Nguồn tài nguyên đất đai phong phú là cơ sở quan trọng để Bắc Kạn phát triển nông - lâm nghiệp.

Diện tích rừng tự nhiên của Bắc Kạn vào loại lớn nhất trong các tỉnh vùng Đông Bắc (95,3% diện tích). Tài nguyên rừng của tỉnh khá đa dạng, phong phú. Ngoài khả năng cung cấp gỗ, tre, nứa còn nhiều loại động vật, thực vật quý hiếm, có giá trị và được coi là một trung tâm bảo tồn nguồn gen thực vật của vùng Đông Bắc.

Về động vật, hiện nay tập trung ở khu vực Kim Hỷ thuộc huyện Na Rì, Cao Sơn thuộc huyện Bạch Thông, Bản Thi thuộc huyện Chợ Đồn và hồ Ba Bể. Hệ động vật của tỉnh Bắc Kạn có giá trị tự bảo tồn nguồn gen cao với nhiều loại đặc hữu và quý hiếm.

Về thực vật, qua điều tra cho thấy tỉnh Bắc Kạn có 280 loài thực vật, trong đó có 300 loài gỗ, 300 loài cây thuốc, 52 loài đã đưa vào sách đỏ Việt Nam.

Bên cạnh đó, Bắc Kạn có khí hậu thuận lợi để phát triển một tập đoàn cây trồng, vật nuôi đa dạng, đặc biệt là cây công nghiệp, cây ăn quả, chăn nuôi đại gia súc. Đây là lợi thế để phát triển một nền nông nghiệp sinh thái, tạo ra các sản phẩm tập trung phục vụ tiêu dùng và xuất khẩu.

Tiềm năng phát triển du lịch

Tỉnh Bắc Kạn được thiên nhiên ban tặng cho nhiều danh lam thắng cảnh, là điều kiện phát triển du lịch.

Hồ Ba Bể là một trong 20 hồ nước ngọt tự nhiên lớn nhất thế giới. Hồ có diện tích rộng 500ha, nằm trong khu vực Vườn Quốc gia Ba Bể, có hệ thống rừng nguyên sinh trên núi đá vôi với 417 loài thực vật, 299 loài động vật có xương sống, trong hồ có 49 loài cá nước ngọt. Hồ Ba Bể đã được công nhận là di tích danh thắng Quốc gia đặc biệt. Năm 2003, Vườn quốc gia Ba Bể được công nhận là vườn di sản ASEAN, năm 2011 được công nhận là khu RAMSAR thứ 3 của Việt Nam. Hiện nay đang lập hồ sơ đề nghị UNESCO công nhận là di sản thế giới.

Đến với Bắc Kạn, du khách sẽ được thăm các căn cứ địa cách mạng, nổi bật nhất là ATK Chợ Đồn - đây là một trong những khu căn cứ mà Bác Hồ và các đồng chí lãnh đạo cao cấp của Đảng, Chính phủ đã sống, hoạt động, lãnh đạo dân tộc ta trong suốt cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp. Hiện nay, ATK Chợ Đồn đang được phục dựng theo quy hoạch tổng thể “Chiến khu Việt Bắc” của Chính phủ.

Bắc Kạn là xứ sở của các dạng địa hình Caxtơ điển hình, tiêu biểu là các hang động kỳ vĩ như: Động Puông, động Hua Mạ, động Nàng Tiên, động Thạch Long… Diện tích hang động có nơi rộng từ hàng trăm đến hàng nghìn mét vuông, với các nhũ đá, cột đá hình thù sinh động, độc đáo.

Đến Bắc Kạn, du khách còn được tham quan các điểm du lịch khác như: Khu bảo tồn thiên nhiên Kim Hỷ, Đền Thắm, chùa Thạch Long, du ngoạn trên sông Cầu, sông Năng… Đặc biệt, du khách còn được đến thăm các bản làng dân tộc với những nét văn hoá truyền thống đặc sắc, được thưởng thức hương vị ngọt ngào của hồng không hạt, lê, cam quýt....với hương vị đặc biệt của núi rừng Việt Bắc.

Nguồn lực con người

Nguồn nhân lực của tỉnh Bắc Kạn khá đông, có thể cung ứng đủ nhu cầu về lao động cho các doanh nghiệp có dự án đầu tư tại tỉnh Bắc Kạn với giá thuê nhân công rẻ hơn các nơi khác. Tuy nhiên, nguồn nhân lực của tỉnh cần tiếp tục được đào tạo để nâng cao chất lượng, đáp ứng nhu cầu cung cấp lao động lành nghề và lao động có trình độ kỹ thuật cao.

Một số lợi thế khác

1. Về giao thông và kết cấu hạ tầng: Bắc Kạn là tỉnh nằm sâu trong lục địa, song có Quốc lộ 3 nối từ Hà Nội đến cửa khẩu Tà Lùng tỉnh Cao Bằng hiện đã được cải tạo nâng cấp, khá thuận lợi cho việc vận chuyển hàng hoá. Khoảng cách từ tỉnh Bắc Kạn đến cửa khẩu Quốc tế Hữu Nghị và cửa khẩu Tân Thanh - Lạng Sơn khoảng 200km, đường bộ từ thị xã Bắc Kạn đến Sân bay Nội Bài 150km và Cảng Hải Phòng chỉ trên 200km. Như vậy có thể thấy việc giao lưu thông thương hàng hoá từ Bắc Kạn đến các cửa khẩu của Cao Bằng, Lạng Sơn, Quảng Ninh, Hải Phòng và Hà Nội là khá thuận tiện.

Mạng lưới đường bộ của tỉnh được xây dựng phù hợp với sự phát triển hệ thống đường bộ của cả nước và của vùng trung du miền núi Bắc Bộ. Tỉnh tập trung ưu tiên đầu tư, nâng cấp theo đúng tiêu chuẩn các tuyến đường giao thông đến khu du lịch, các khu trung tâm của tỉnh.

Đến nay, cả tỉnh có 126km đường quốc lộ, 84km đường tỉnh lộ được bê tông nhựa; 16,9km đường huyện được bê tông xi măng; 447,5km đường từ trung tâm huyện đến xã đạt GTNT loại A. Toàn tỉnh có 84,2% thôn có đường giao thông nông thôn đến trung tâm thôn; 108 xã, phường, thị trấn có đường giao thông ô tô đi đến trung tâm trong 4 mùa.

Hệ thống điện lưới quốc gia và hệ thống thông tin liên lạc đã được đầu tư đến tất cả các xã; các trung tâm thị trấn, thị xã đã phủ sóng điện thoại di động.

2. Về khí hậu thuỷ văn: Khí hậu của Bắc Kạn có nhiều nét đặc trưng:

Nhiệt độ trung bình hàng năm từ 20 - 22 độ C, trung bình cao nhất từ 25 -28 độ C, trung bình thấp nhất từ 10 - 11 độ C. Với chế độ nhiệt như vậy, đã hình thành trên địa bàn tỉnh nhiều tiểu vùng khí hậu đất đai khác nhau, thích hợp với nhiều loại cây trồng, vật nuôi, tạo thế mạnh cho từng khu vực, với các loại sản phẩm đặc trưng của vùng nhiệt đới và á nhiệt đới.

Bắc Kạn nằm sâu trong nội địa lại có núi sâu che chắn nên ít bị ảnh hưởng của bão. Bão đến Bắc Kạn thường ít gây tác hại, chỉ có nước lớn và lũ trên các sông suối…

3. Hạ tầng cung cấp điện, công nghiệp

Hàng năm, hệ thống cung cấp điện của tỉnh luôn được nâng cấp, cơ bản đáp ứng yêu cầu cung cấp điện cho sản xuất và phục vụ sinh hoạt của nhân dân.

Tổng chiều dài đường dây cao áp trên địa bàn tỉnh Bắc Kạn là 1.502,38km, trong đó: Đường dây 220KV dài 73km, đường dây 100KV dài 137,8km. Đến nay, cả tỉnh có tổng số 781 trạm biến áp; tổng chiều dài đường dây 35kV là 1.363,85km; tổng chiều dài đường dây 04kV là 1.570,89km

Cả tỉnh đã có 3 nhà máy thuỷ điện đang hoạt động, hoà lưới điện quốc gia: Thuỷ điện Tà Làng công suất 4,5Mw, Thuỷ điện Thượng Ân công suất 2,4Mw, thuỷ điện Nặm Cắt 1 công suất 3,2Mw.

4. Hạ tầng công nghệ thông tin

Tỉnh đã từng bước đầu tư xây dựng hạ tầng thông tin theo hướng công nghệ hiện đại, tiên tiến, phù hợp với tình hình phát triển kinh tế - xã hội hàng năm của tỉnh. Mạng truyền số liệu chuyên dùng của tỉnh được đầu tư và lắp đặt điểm cuối tại các sở, ban, ngành và 8 huyện, thị xã.

Toàn tỉnh có 6% số hộ kết nối mạng Internet; 100% các doanh nghiệp cung cấp dịch vụ viễn thông đã triển khai cung cấp dịch vụ chất lượng cao bằng công nghệ hiện đại; 3/5 doanh nghiệp đã cung cấp dịch vụ 3G tạo điều kiện cho việc triển khai kết nối Internet và truyền tải số liệu, ứng dụng công nghệ thông tin.

Các cơ quan chính quyền đã sử dụng hạ tầng CNTT được đầu tư. Việc triển khai mô hình Chính quyền điện tử tại UBND cấp huyện bước đầu đem lại hiệu quả:

- Đến nay, 24/28 cơ quan, đơn vị quản lý nhà nước trực thuộc tỉnh có trang/cổng thông tin điện tử, đạt 85,7%.

- Phần mềm quản lý văn bản và hồ sơ được triển khai ở 28 đơn vị cấp sở, huyện để quản lý văn bản đi đến, chuyển nhận văn bản trên môi trường mạng

- Hệ thống thư điện tử của tỉnh đưa vào sử dụng tại địa chỉ http://mail.backan.gov.vn đến nay đã cấp cho 100% cán bộ, công chức các cơ quan, đơn vị trên địa bàn tỉnh.

Hạ tầng CNTT tại các cơ quan nhà nước cũng được nâng cấp và bổ sung đảm bảo phục vụ công tác chuyên môn và đảm bảo cho 80% cán bộ, công chức của cơ quan QLNN từ cấp huyện trở lên trên địa bàn tỉnh có điều kiện sử dụng thư điện tử và khai thác thông tin trên mạng Internet phục vụ cho công việc. Hiện nay 100% các sở, ban, ngành và các huyện thị trong tỉnh đã có mạng LAN, tỷ lệ kết nối Internet đạt trên 95%; 100% xã, phường được đầu tư máy tính hỗ trợ làm việc và 65,6% xã, phường có kết nối Internet. Đến nay 100% cán bộ, công chức cấp huyện trở lên và 60% cán bộ, công chức cấp xã được phổ cập tin học cơ bản.

5. Hạ tầng thủy lợi

Bắc Kạn là đầu nguồn của 5 con sông lớn thuộc vùng Đông Bắc là sông Lô, sông Gâm, sông Kỳ Cùng, sông Bằng Giang, sông Cầu. Dựa trên lợi thế về điều kiện tự nhiên, tỉnh đã tập trung đầu tư nâng cấp hệ thống thủy lợi hiện có; xây dựng và củng cố hệ thống kè bờ sông, hệ thống hồ chứa. Đến nay, toàn tỉnh có 955 công trình thủy lợi lớn nhỏ, trong đó có 35 công trình hồ chứa và 742 đập dâng; 144 hệ thống kênh mương, 10 xi phông; 24 trạm bơm điện phục vụ cấp nước cho sản xuất và sinh hoạt. Các công trình thủy lợi đảm bảo cung cấp nước cho sản xuất nông nghiệp, cải tạo môi trường và an toàn cho nhân dân.

Bên cạnh đó, tỉnh đã tập trung, lồng ghép các chương trình như chương trình 135, chương trình MTQG nước sạch và vệ sinh môi trường nông thôn, chương trình 134, chương trình 30a,… nhằm đầu tư nâng cấp, xây dựng các công trình thủy lợi nhỏ và công trình cấp nước sinh hoạt nông thôn.

6. Hạ tầng đô thị

Hạ tầng đô thị của tỉnh từng bước được đầu tư. Năm 2012, thị xã Bắc Kạn được công nhận là đô thị loại III. Hiện nay, tỉnh đang tập trung các nguồn lực đầu tư cơ sở hạ tầng để đưa thị xã trở thành Thành phố Bắc Kạn vào năm 2015. Xã Vân Tùng chuẩn bị được công nhận là thị trấn Vân Tùng, là trung tâm kinh tế chính trị của huyện Ngân Sơn.

Với những tiềm năng, lợi thế như trên, tỉnh Bắc Kạn rất mong sẽ sớm được đón tiếp các nhà đầu tư vào tỉnh, góp phần xây dựng quê hương Bắc Kạn giàu đẹp, văn minh và phát triển bền vững.

II - Một số kết quả đạt được sau gần 20 năm tái thành lập tỉnh

Khi mới tái lập, nền kinh tế chủ yếu là thuần nông; toàn tỉnh có 16 xã chưa có đường ô tô, 16 xã khác ô tô chỉ đến được trong mùa khô; 2 huyện và 102 xã chưa có điện lưới quốc gia; 93 xã chưa có điện thoại; 71% số phòng học làm bằng tranh tre, nứa lá… Lĩnh vực Giáo dục - Đào tạo, Y tế tụt hậu so với địa phương khác trong cả nước. Toàn tỉnh còn có 36% xã chưa đạt chuẩn quốc gia về phổ cập giáo dục tiểu học và xoá mù chữ. Số người mắc bệnh bướu cổ chiếm gần 30% dân số. Các tệ nạn cờ bạc, mê tín dị đoan, nghiện các chất ma tuý gây nhiều bức xúc. Tỷ lệ đói nghèo trên 50% số hộ dân (theo tiêu chuẩn cũ).

Được sự quan tâm, hỗ trợ của Đảng, Nhà nước, các bộ, ban, ngành Trung ương, các tỉnh bạn cùng với sự nỗ lực phấn đấu của Đảng bộ và nhân dân các dân tộc trong tỉnh, sau gần 20 năm tái lập, tỉnh Bắc Kạn đã đạt được những kết quả khá toàn diện.

Tốc độ tăng trưởng kinh tế bình quân trong giai đoạn 2011-2013 ước đạt 12,3%, trong đó: Khu vực nông, lâm, ngư nghiệp tăng 9,1%; khu vực công nghiệp - XDCB tăng 11,21%; khu vực dịch vụ tăng 15,67%.

Tổng giá trị gia tăng (theo giá hiện hành) năm 2013 ước đạt 6.276 tỷ đồng, tăng 2.734 tỷ đồng so với năm 2010. Thu nhập bình quân đầu người năm 2013  ước đạt 20,4 triệu đồng, tăng 8,5 triệu đồng so với năm 2010.

Cơ cấu ngành kinh tế chuyển dịch theo hướng tăng tỷ trọng công nghiệp: Năm 2013, khu vực nông, lâm, ngư nghiệp chiếm 38,86%; khu vực công nghiệp - xây dựng cơ bản chiếm 18,26%; khu vực dịch vụ chiếm 42,88%. So với năm 2010, khu vực nông, lâm, ngư nghiệp tăng 0,34%, khu vực công nghiệp - xây dựng cơ bản tăng 1,03%, khu vực dịch vụ giảm 1,37%.

Thu ngân sách nhà nước trên địa bàn giai đoạn 2011-2013 tăng bình quân 10,44%/năm. Chi ngân sách nhà nước tăng bình quân 1,72%/năm. Năm 2013, thu ngân sách nhà nước ước đạt 390 tỷ đồng, chi ngân sách nhà nước ước đạt 3.193 tỷ đồng.

Khu vực nông, lâm nghiệp chuyển dịch theo hướng sản xuất hàng hoá, nâng cao giá trị sản xuất trên một đơn vị diện tích canh tác. Tổng sản lượng lương thực có hạt bình quân giai đoạn 2011-2013 ước đạt 163.384 tấn/năm, lương thực bình quân đầu người đạt 542kg/năm. Tổng diện tích gieo cấy lúa ruộng bình quân năm đạt 21.557ha/năm; năng suất bình quân 46 tạ/ha/năm; sản lượng bình quân 100.273 tấn/năm. Tổng diện tích gieo ngô bình quân đạt 16.318ha/năm; năng suất bình quân 37,8 tạ/ha; sản lượng bình quân 62,735 tấn/năm.

Trong giai đoạn 2011-2013, toàn tỉnh trồng được 40.408 ha rừng mới, bình quân mỗi năm trồng khoảng 13.469 ha (mục tiêu giai đoạn 2011-2015 trồng 12.000ha/năm). Độ che phủ rừng tăng từ 58% năm 2010 lên 60% năm 2012, năm 2013 ước đạt 61%.

Chương trình xây dựng nông thôn mới được triển khai tích cực. Dự kiến đến hết năm 2013, 100% các xã hoàn thành đồ án và đề án quy hoạch xây dựng nông thôn mới. Lĩnh vực nông nghiệp phát triển đã góp phần quan trọng trong phát triển nông thôn và giảm tỷ lệ đói nghèo. Cơ sở hạ tầng nông thôn ngày càng được cải thiện thông qua các chương trình kiên cố hoá kênh mương, đầu tư xây dựng mới và nâng cấp các công trình thuỷ lợi, giao thông nông thôn, trường học, trạm y tế.....

Giá trị sản xuất công nghiệp - XDCB của tỉnh hàng năm tăng trưởng bình quân khoảng 15,1%; giá trị sản xuất CN-XDCB (theo giá cố định) năm 2013 ước đạt 1.029 tỷ đồng. Hệ thống cơ sở hạ tầng khu công nghiệp Thanh Bình đã hoàn thành. Tỉnh đã xây dựng xong Quy hoạch chi tiết cụm công nghiệp Huyền Tụng, thị xã Bắc Kạn và cụm công nghiệp Pù Pết, huyện Ngân Sơn.

Tốc độ tăng trưởng của khu vực dịch vụ trong những năm qua đạt kết quả khá và ổn định. Giai đoạn 2011 - 2013 tăng trưởng bình quân ước đạt 15,67%/năm. Tổng mức bán lẻ hàng hoá và doanh thu dịch vụ tăng trưởng nhanh, bình quân 25,68%/năm. Cơ sở hạ tầng phục vụ phát triển du lịch từng bước được quan tâm đầu tư xây dựng. Mạng lưới giao thông phục vụ cho phát triển du lịch đang được đầu tư nâng cấp; hệ thống thông tin liên lạc đã phát triển đến tất cả các huyện và hầu hết các khu, điểm du lịch đáp ứng cho nhu cầu phát triển du lịch.

Sự nghiệp Giáo dục và Đào tạo của tỉnh đã đạt được những kết quả quan trọng. Quy mô, các loại hình trường lớp không ngừng được mở rộng, cơ sở vật chất được tăng cường, toàn tỉnh hiện có 52 trường đạt chuẩn quốc gia. Tỉnh đạt chuẩn quốc gia phổ cập giáo dục Tiểu học từ tháng 12/1998 và đạt chuẩn phổ cập THCS vào tháng 12/2005, hiện nay đang tích cực triển khai PCGD mầm non cho trẻ em 5 tuổi, đẩy nhanh tiến độ PCGD tiểu học đúng độ tuổi, triển khai PCGD trung học ở những nơi có điều kiện. Tổ chức bộ máy ngành y tế được kiện toàn từ tỉnh đến cơ sở. Các chương trình mục tiêu quốc gia về  y tế được thực hiện tốt. Công tác xoá đói giảm nghèo đạt kết quả tốt. Tỷ lệ hộ nghèo giảm từ 32,13% năm 2010 xuống 20,39% năm 2012 và ước còn 15,39% năm 2013. Đời sống của đại bộ phận nhân dân trong tỉnh từng bước được cải thiện.

Các hoạt động văn hoá - xã hội ngày càng phong phú, đa dạng. Diện mạo nông thôn cũng như các trung tâm huyện lỵ, tỉnh lỵ đang từng ngày đổi thay theo chiều hướng văn minh, sạch đẹp. An ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội được củng cố và giữ vững.

III - Định hướng phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh Bắc Kạn đến năm 2020

Thực hiện Quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội tỉnh Bắc Kạn thời kỳ đến năm 2020 do Thủ tướng Chính phủ phê duyệt, Đảng bộ, chính quyền và nhân dân tỉnh Bắc Kạn quyết tâm phấn đấu xây dựng Bắc Kạn phát triển toàn diện cả về kinh tế, văn hoá, xã hội và bảo vệ môi trường trên cơ sở phát huy được lợi thế so sánh của Tỉnh về tài nguyên rừng, khoáng sản để phát triển nhanh và bền vững. Cơ cấu kinh tế, cơ cấu lao động chuyển dịch theo hướng tích cực. Ngành nông nghiệp được phát triển dựa trên tài nguyên rừng và chăn nuôi dưới tán rừng. Ngành công nghiệp phát triển trên cơ sở công nghiệp chế biến. Môi trường được bảo vệ, giải quyết việc làm, tạo thu nhập ổn định cho người lao động, đời sống nhân dân được cải thiện. Các chỉ tiêu về mức sống, văn hoá, xã hội đạt ở mức khá so với bình quân của cả nước; thu hẹp khoảng cách chênh lệch thu nhập của các cộng đồng dân cư, giữa các vùng trong tỉnh. Kết cấu hạ tầng đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế, đời sống xã hội và quốc phòng an ninh. Cơ sở hạ tầng thông tin được phát triển, điện năng đáp ứng tốt nhu cầu sinh hoạt và sản xuất của nhân dân. Khối đoàn kết các dân tộc được củng cố. Quốc phòng, an ninh và trật tự, an toàn xã hội được giữ vững.

Các mục tiêu cụ thể :

a) Mục tiêu kinh tế:

Tốc độ tăng trưởng tổng sản phẩm quốc nội (GDP) bình quân hằng năm giai đoạn 2011 - 2015 đạt trên 15%; giai đoạn 2016 - 2020 đạt trên 14%; GDP theo giá thực tế năm 2015 gấp 2,9 lần so với năm 2010; năm 2020 gấp 2,6 lần so với năm 2015. Bình quân GDP/người theo giá thực tế năm 2015 đạt khoảng 26,4 triệu đồng bằng khoảng 59% mức bình quân của cả nước và năm 2020 đạt khoảng 65 - 66 triệu đồng bằng khoảng 75% mức bình quân của cả nước;

- Chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng giảm dần tỷ trọng nông nghiệp, tăng nhanh dần tỷ trọng các ngành: công nghiệp, dịch vụ, đặc biệt là du lịch và thương mại. Trong đó ngành nông nghiệp được phát triển với mũi nhọn là ngành chăn nuôi được hình thành trên một nền nông nghiệp sạch, công nghệ tiên tiến và áp dụng rộng rãi công nghệ sinh học; ngành công nghiệp phát triển nhanh trên cơ sở đẩy mạnh công nghiệp chế biến; ngành dịch vụ phát triển với tỷ trọng giá trị gia tăng cao. Tỷ trọng ngành công nghiệp - xây dựng chiếm 31%, các ngành dịch vụ chiếm 34%, ngành nông, lâm nghiệp chiếm 35% vào năm 2015 và tỷ trọng tương ứng đạt 41% - 30% - 29% vào năm 2020;

- Giá trị kim ngạch xuất khẩu của tỉnh năm 2015 đạt 10 triệu USD, năm 2020 đạt trên 30 triệu USD; tỷ lệ huy động GDP vào ngân sách khoảng 11 - 12% vào năm 2015 và 12 - 12,5% vào năm 2020;

- Tổng nhu cầu đầu tư xã hội giai đoạn 2011 - 2015 theo giá thực tế khoảng 22 nghìn tỷ đồng; giai đoạn 2016 - 2020 khoảng 50 nghìn tỷ đồng. Tốc độ tăng vốn đầu tư bình quân hằng năm giai đoạn 2011 - 2015 đạt khoảng 34% và  giai đoạn 2016 - 2020 đạt khoảng 32%.

b) Mục tiêu phát triển xã hội :

- Giảm tỷ lệ tăng dân số tự nhiên còn 1,2% vào năm 2015 và ổn định tỷ lệ tăng dân số tự nhiên ở mức 1,1% sau năm 2015. Tỷ lệ dân số thành thị chiếm 20% vào năm 2015 và 30% vào năm 2020. Tỷ lệ lao động nông nghiệp trong tổng lao động xã hội giảm xuống còn 65% vào năm 2015 và 58,4% vào năm 2020;

- Các tiêu chí về mức sống và văn hoá - xã hội được cải thiện và nâng cao; các chỉ số phát triển con người (HDI), số dân được dùng nước sạch, diện tích nhà ở/người đạt mức bình quân của cả nước vào năm 2020;

- Tỷ lệ lao động được đào tạo nghề đạt khoảng 35% vào năm 2015 và đạt khoảng 45 - 50% vào năm 2020. Tỷ lệ sử dụng thời gian lao động ở nông thôn đạt 85% vào năm 2015 và đạt 90% vào năm 2020. Giảm tỷ lệ thất nghiệp ở khu vực đô thị còn 3,2% - 3,5% và bình quân hằng năm giải quyết việc làm cho 7.000 lao động cho cả thời kỳ;

- Tỷ lệ hộ nghèo giảm bình quân 3 - 3,5%/năm, đến năm 2015 giảm xuống còn dưới 10% và đến năm 2020 cơ bản không còn hộ nghèo theo chuẩn nghèo hiện nay;

- Duy trì vững chắc kết quả phổ cập giáo dục trung học cơ sở, đến năm 2015 đạt 02 đơn vị cấp huyện đạt chuẩn phổ cập bậc trung học cơ sở và đạt 06 đơn vị cấp huyện, trên 50% đơn vị cấp xã đạt chuẩn phổ cập bậc trung học cơ sở vào năm 2020;

- Đạt 100% số xã đạt phổ cập giáo dục mầm non cho trẻ 5 tuổi vào năm 2015;

- Đạt khoảng 80% số xã, phường đạt chuẩn quốc gia về y tế xã và 100% thôn, bản có nhân viên y tế có trình độ sơ học, 100% trạm y tế xã có bác sỹ và đạt khoảng 8 bác sỹ/1 vạn dân vào năm 2015 và đạt 10bác sỹ/1 vạn dân vào năm 2020;

- Giảm tỷ lệ trẻ em dưới 5 tuổi suy dinh dưỡng xuống dưới 20% vào năm 2015 và dưới 12% vào năm 2020;

- Đạt 100% số xã có trung tâm văn hoá thông tin thể thao và các thiết chế văn hoá thông tin cấp xã, phường; 90% số thôn, bản có nhà văn hoá, tụ điểm văn hoá sinh hoạt cộng đồng; 100% số hộ nghe được chương trình phát thanh và xem được truyền hình vào năm 2015 và các chỉ tiêu trên đạt 100% vào năm 2020;

c) Mục tiêu về bảo vệ môi trường:

- Phủ xanh đất trống đồi núi trọc; đến năm 2015, tỷ lệ che phủ của rừng đạt 62% và đạt trên 65% vào năm 2020;

- Tỷ lệ dân cư đô thị được sử dụng nước sạch đạt 100%, tỷ lệ dân cư nông thôn được sử dụng nước sinh hoạt hợp vệ sinh đạt 95% vào năm 2015 và hầu hết dân cư đô thị được sử dụng nước sạch, dân cư nông thôn được sử dụng nước sinh hoạt hợp vệ sinh vào năm 2020;

- Đạt 80% tỷ lệ rác thải tại trung tâm các huyện và 100% rác thải tại trung tâm thị xã Bắc Kạn được thu gom xử lý, trên 70% chất thải rắn được thu gom xử lý, chất thải y tế nguy hiểm cơ bản được xử lý vào năm 2015 và tỷ lệ này tương ứng đạt 100% vào năm 2020.

d) Mục tiêu về quốc phòng an ninh:

An ninh quốc phòng, trật tự an toàn xã hội được giữ vững, phấn đấu hằng năm tỷ lệ tuyển quân đạt 100% theo quy định./.

Nguyễn Nga
Sign In

CỔNG THÔNG TIN ĐIỆN TỬ BẮC KẠN

Giấy phép số 04/GP-TTĐT do Sở Thông tin và Truyền thông tỉnh Bắc Kạn cấp ngày 22/11/2016

Cơ quan chủ quản: UBND tỉnh Bắc Kạn

Trưởng Ban Biên tập: Ông Phạm Duy Hưng - Phó Chủ tịch UBND tỉnh

Cơ quan Thường trực: Trung tâm CNTT&TT tỉnh Bắc Kạn

Địa chỉ: Tổ 1A, phường Phùng Chí Kiên, thành phố Bắc Kạn, tỉnh Bắc Kạn

Điện thoại: 0209.3871.180 - Fax: 0209.3871.180 - Email: banbientap@backan.gov.vn - support@backan.gov.vn

Ghi rõ nguồn Cổng Thông tin điện tử Bắc Kạn hoặc backan.gov.vn khi phát hành lại thông tin từ Website này