Skip Ribbon Commands
Skip to main content
Cổng thông tin điện tử Bắc Kạn kính chào quý khách! Trang chủ Góp ý Sơ đồ trang Liên hệ

Tiếp tục đẩy mạnh ứng dụng công nghệ sinh học thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội

(Cập nhật lúc: 31/03/2020 15:03:46 )

Thực hiện Chỉ thị số 50-CT/TW ngày 04/3/2005 của Ban Bí thư Trung ương Đảng (Khóa IX) về việc đẩy mạnh phát triển và ứng dụng công nghệ sinh học (CNSH) phục vụ sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, tỉnh Bắc Kạn đã ứng dụng, phát triển công nghệ sinh học trên các lĩnh vực nông nghiệp, y tế, môi trường…bước đầu đã góp phần phát triển kinh tế - xã hội của địa phương.

Thực hiện Chỉ thị số 50-CT/TW ngày 04/3/2005 của Ban Bí thư Trung ương Đảng (Khóa IX), Tỉnh ủy, UBND tỉnh Bắc Kạn đã cụ thể hóa các mục tiêu, nhiệm vụ, giải pháp phát triển và ứng dụng công nghệ sinh học lồng ghép với các đề án, dự án, chương trình, quyết định trong từng giai đoạn; ngành khoa học và công nghệ, các ngành, cơ quan, đơn vị liên quan đã lồng ghép trong các chương trình, kế hoạch chung về hoạt động khoa học và công nghệ. Tỉnh luôn quan tâm đến công tác đào tạo, bồi dưỡng nâng cao năng lực cho đôi ngũ cán bộ, phát triển nguồn nhân lực khoa học và công nghệ sinh học, xây dựng đội ngũ cán bộ có trình độ, năng lực đáp ứng yêu cầu nghiên cứu, cải tiến và ứng dụng hiệu quả các tiến bộ CNSH vào sản xuất và đời sống; đầu tư cơ sở vật chất, trang thiết bị thiết thực phục vụ nghiên cứu, ứng dụng khoa học công nghệ, chăm sóc sức khỏe nhân dân, bảo tồn nguồn gen quý hiếm. Nhờ đó, tỉnh đã đạt được một số kết quả nhất định trong phát triển và ứng dụng CNSH trên các lĩnh vực, góp phần phát triển kinh tế - xã hội của địa phương.

Trong lĩnh vực nông nghiệp, tỉnh đã thành công trong việc nhân giống cây trồng bằng phương pháp nuôi cấy mô tế bào thực vật như cây khoai môn, chuối tây, lan Kim tuyến, Bạch Đàn, Ba Kích và hiện nay đang nghiên cứu cấy mô cây lan Hồ Điệp; sản xuất giống nấm chất lượng cao, bằng công nghệ nuôi cấy mô tế bào (in vitro) và nấm thương phẩm phục vụ nhu cầu sản xuất và tiêu dùng trên địa bàn tỉnh.

Với việc triển khai thực hiện thành công các đề tài/dự án khoa học như:“Phục tráng giống bao thai Chợ Đồn”,“Ứng dụng công nghệ nuôi cấy invitro để nhân giống khoai môn phục vụ sản xuất tại tỉnh Bắc Kạn”, “Ứng dụng khoa học và công nghệ phát triển giống Hồng không hạt đặc sản tại tỉnh Bắc Kạn”... tỉnh đã bảo tồn và phát triển được một số giống cây trồng, vật nuôi bản địa có giá trị kinh tế cao như: Cam, quýt, hồng không hạt Bắc Kạn, khoai môn, gừng đá, lan kim tuyến, lúa Bao thai Chợ Đồn, lúa Khẩu Nua lếch Ngân Sơn, lợn địa phương… góp phần bảo tồn nguồn gen và phát triển kinh tế bền vững. Cùng với đó là xây dựng các mô hình sản xuất Quýt, hồng không hạt, chè Shan tuyết... theo quy trình Vietgap, ứng dụng công nghệ cao trong sản xuất rau góp phần tăng năng suất, chất lượng sản phẩm, tăng giá trị trong sản xuất nông nghiệp.

Giống lúa Bao thai Chợ Đồn đã được phục tráng

Thời gian qua, tỉnh đã triển khai nhiều đề tài nghiên cứu, lựa chọn được một số giống ngô, lúa thuần, lúa chất lượng cao ngắn ngày, năng suất cao, phù hợp với điều kiện của tỉnh đưa vào cơ cấu giống; đồng thời khuyến khích người dân sử dụng các loại giống có nguồn gốc, kháng hoặc ít nhiễm sâu bệnh, giống lai có năng suất cao nhằm nâng cao hiệu quả trên đơn vị diện tích. Các giống lúa mới đưa vào sản xuất là giống xác nhận, giống tiến bộ kỹ thuật, được nghiên cứu khảo nghiệm từ 3 vụ trở lên, nhờ đó năng suất lúa bình quân tăng 22% từ 41,34 tạ/ha (năm 2004) tăng lên 50,33 tạ/ha (năm 2019), góp phần tích cực vào việc bảo đảm an ninh lương thực trên địa bàn tỉnh.

Nhằm thu hút các nguồn vốn thực hiện các chương trình chuyển giao tiến bộ, trong những năm qua, Ngành nông nghiệp đã phối hợp, hợp tác với các tổ chức như CIDSE, 3PAD, CHILDFUND, VOICE, ASDP... triển khai thực hiện các mô hình phát triển sản xuất; phối hợp với các công ty thực hiện mô hình khảo nghiệm, thử nghiệm các giống cây trồng mới có năng suất, chất lượng cao, phù hợp với điều kiện tự nhiên của địa phương.

Trong lĩnh vực y - dược, tỉnh đã nghiên cứu hoàn thiện kỹ thuật trồng, chế biến một số cây dược liệu nhằm khai thác tiềm năng lợi thế về khí hậu, đất đai tại địa phương như: Giảo cổ lam, Dong riềng đỏ, Hà thủ ô đỏ, Ba kích tím, Ban lá dính, Đảng sâm; xây dựng mô hình vườn ô mẫu thuốc nam... Kết quả của nghiên cứu của các đề tài/dự án là cơ sở để ngành Y tế triển khai đại trà trên địa bàn toàn tỉnh.

Trong lĩnh vực bảo vệ môi trường, nhiều công nghệ mới đã được nghiên cứu, chuyển giao và ứng dụng trong công tác xử lý ô nhiễm môi trường trên địa bàn tỉnh, đặc biệt là xử lý chất thải. Đối với việc xử lý chất thải rắn sinh hoạt, bên cạnh phương pháp chôn lấp, tỉnh đã nghiên cứu, chuyển giao một số công nghệ xử lý tiên tiến như công nghệ ủ phân vi sinh để xử lý chất thải hữu cơ, áp dụng tại Nhà máy xử lý, tái chế chất thải rắn tỉnh Bắc Kạn (thành phố Bắc Kạn). Ngoài ra, các loại chế phẩm sinh học như EM, ... cũng được sử dụng rộng rãi để giảm thiểu mùi hôi, thúc đẩy quá trình phân hủy chất hữu cơ tại các bãi chôn lấp rác thải trên địa bàn tỉnh.

Trong xử lý nước thải sinh hoạt, hiện nay Nhà máy xử lý nước thải thành phố Bắc Kạn đã sử dụng công nghệ sinh học xử lý nước thải với công suất 3.000m3/ngày và xử lý đạt khoảng 1.300m3/ngày đêm nước thải sinh hoạt của thành phố. Nước thải sinh hoạt sau hệ thống xử lý đạt quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về môi trường trước khi thải ra sông Cầu, việc xử lý nước thải đã đáp ứng cơ bản yếu tố môi trường.

Việc đẩy mạnh nghiên cứu ứng dụng khoa học và công nghệ, việc tiếp nhận, chuyển giao công nghệ tiên tiến cũng là giải pháp quan trọng để xử lý chất thải y tế. Toàn tỉnh có Bệnh viện đa khoa tỉnh và 08 bệnh viện tuyến huyện, phát sinh khoảng 315 m3 nước thải/ngày, đêm. Đến nay, hầu hết, các bệnh viện đã được đầu tư hệ thống xử lý nước thải, sử dụng các công nghệ xử lý bằng sinh học như Aeroten, màng lọc sinh học AAO... nên kết quả xử lý nước thải y tế đã đáp ứng quy chuẩn hiện hành.

Bên cạnh đó, công nghệ sinh học được ứng dụng trong xử lý chất thải chăn nuôi đạt hiệu quả cao, đặc biệt là ở các cơ sở, trang trại chăn nuôi lợn. Hiện tại trên địa bàn tỉnh có 03 cơ sở chăn nuôi lợn quy mô lớn ứng dụng công nghệ kỵ khí, biogasvà chế phẩm E.M để xử lý nước thải chăn nuôi, tạo nguồn chất đốt rẻ tiền, giảm chi phí sản xuất, tăng hiệu quả chăn nuôi vừa bảo vệ tốt môi trường sống. Các cơ sở chăn nuôi quy mô nhỏ, các hộ gia đình đã đầu tư hệ thống biogas xử lý chất thải chăn nuôi đồng thời tận dụng chất đốt mang lại hiệu quả kinh tế cao và giảm thiểu gây ô nhiễm môi trường.

Ngoài ra, tỉnh cũng triển khai các giải pháp, công nghệ tiên tiến, phù hợp để xử lý đất ô nhiễm do hóa chất bảo vệ thực vật (BVTV) tồn lưu. Sở Tài nguyên và Môi trường đã phối hợp với các sở, ngành, địa phương lập dự án xử lý ô nhiễm môi trường do hóa chất BVTV tồn lưu bằng nhiều công nghệ khác nhau như hóa học kết hợp với chôn lấp và công nghệ sinh học.

Việc triển khai ứng dụng công nghệ sinh học có hiệu quả thời gian qua đã góp phần thay đổi tập quán canh tác của nông dân từ lạc hậu, thủ công sang áp dụng khoa học, công nghệ vào sản xuất, nâng cao năng suất, chất lượng sản phẩm, góp phấn thúc đẩy tăng trưởng kinh tế và nâng cao đời sống người dân; phòng, chống dịch bệnh; bảo vệ môi trường sinh thái, giảm thiểu ô nhiễm môi trường

Trong thời gian tới, tỉnh Bắc Kạn xác định các giải pháp đột phá để phát triển và ứng dụng công nghệ sinh học giai đoạn đến 2030, đó là: Ứng dụng công nghệ sinh học trong việc tạo ra các giống cây trồng, vật nuôi có năng suất, chất lượng và hiệu quả kinh tế cao, các sản phẩm chủ lực của địa phương, có sức cạnh tranh trên thị trường; ứng dụng có hiệu quả CNSH trong bảo quản và chế biến nông sản, lĩnh vực y dược, bảo vệ môi trường. Phát triển xây dựng mô hình sản xuất sản phẩm sạch và bền vững cho môi trường đối với các cây trồng, vật nuôi chủ lực của địa phương. Tăng cường hợp tác với các địa phương về nghiên cứu và ứng dụng công nghệ sinh học để từng bước hình thành và làm chủ được một số lĩnh vực công nghệ sinh học ứng dụng hiệu quả vào sản xuất phù hợp với điều kiện thực tiễn của địa phương; phối hợp phát triển các doanh nghiệp, hợp tác xã, trang trại,... ứng dụng CNSH vào sản xuất và xử lý môi trường. Đầu tư và lồng ghép các nguồn vốn để thực hiện có hiệu quả việc ứng dụng công nghệ sinh học vào phát triển kinh tế - xã hội…/.

Hương Dịu
Sign In