Skip Ribbon Commands
Skip to main content
Cổng thông tin điện tử Bắc Kạn kính chào quý khách! Trang chủ Góp ý Sơ đồ trang Liên hệ

Pác Nặm: Chuyển biến tích cực sau 10 năm thực hiện Nghị quyết “tam nông”

(Cập nhật lúc: 11/09/2018 07:48:07 )

Sau 10 năm triển khai thực hiện Nghị quyết Trung ương 7 (khóa X) về nông nghiệp, nông dân, nông thôn (còn gọi là Nghị quyết “tam nông”, giai đoạn 2008 - 2018), giá trị sản xuất nông nghiệp trên địa bàn huyện Pác Nặm có bước phát triển đáng kể, đời sống người dân tiếp tục được cải thiện, diện mạo nông thôn miền núi có nhiều khởi sắc.

Tuy đặc thù địa bàn miền núi, đời sống người dân còn nhiều khó khăn, cơ sở hạ tầng hạn chế nhưng bằng nỗ lực của cả hệ thống chính trị, quá trình triển khai thực hiện Nghị quyết “tam nông” của địa phương đạt được kết quả khả quan. 10 năm qua, huyện Pác Nặm đã tăng cường ứng dụng các thành tựu khoa học, công nghệ về giống cây trồng, vật nuôi; xây dựng mô hình sản xuất phù hợp với điều kiện sản xuất của từng xã, tạo ra sản phẩm nông nghiệp có giá trị, chất lượng, nâng cao hiệu quả sản xuất, góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp như: Mô hình sử dụng giống lúa, ngô mới thâm canh tăng năng suất, chất lượng; mô hình sản xuất rau, trồng cải tạo và thâm canh mận chín sớm, trồng lê; nuôi trâu bò sinh sản và trâu, bò vỗ béo, lợn địa phương...


Mô hình chăn nuôi lợn địa phương tại xã Nghiên Loan, huyện Pác Nặm

Thông qua các mô hình được chuyển giao, tập huấn, năng suất, chất lượng cây trồng, vật nuôi được tăng lên, góp phần nâng cao giá trị, hiệu quả cho người sản xuất, đồng thời đảm bảo an ninh lương thực. Năm 2017 năng suất lúa trung bình của huyện đạt 45,76 tạ/ha (tăng 03 tạ/ha so với năm 2008); năng suất ngô trung bình 36,3 tạ/ha (tăng 04 tạ/ha so với năm 2008); tổng sản lượng lương thực ổn định trên 20.353 tấn (tăng 5.286 tấn so với năm 2008). Đến nay, trên địa bàn huyện bước đầu đã hình thành một số mô hình và vùng sản xuất hàng hóa như: Vùng trồng ngô tại các xã trên địa bàn huyện với quy mô trên 2.000ha; vùng trồng gừng, nghệ tại các xã Xuân La, Nhan Môn, Giáo Hiệu, Cao Tân, Cổ Linh với quy mô trên 50ha; vùng sản xuất rau tại Bộc Bố, Giáo Hiệu, Nghiên Loan với quy mô trên 30ha; vùng trồng Mận chín sớm tại Nghiên Loan, Xuân La, Bằng Thành với quy mô sản xuất trên 185ha... Tính hết năm 2017, tổng đàn vật nuôi của huyện gồm: Đàn trâu, bò, ngựa là 16.611 con (tăng 440 con so với 2008); đàn lợn 25.791 con (tăng 1.691 con so với 2008); tổng đàn gia cầm 122.336 con (tăng 13.014 con so với 2008). Diện tích nuôi thủy sản 23ha, sản lượng đạt 40 tấn.

Bên cạnh việc tạo điều kiện về đào tạo tập huấn, quản lý hợp tác xã, huyện đã tăng cường thực hiện hỗ trợ, tư vấn, tổ chức học tập kinh nghiệm trong và ngoài huyện; xúc tiến thương mại, tìm kiếm thị trường tiêu thụ nông sản hàng hóa; tạo điều kiện thuận lợi cho các hợp tác xã tham gia các hội chợ triển lãm trong và ngoài huyện, là tiền đề hình thành các sản phẩm đặc trưng theo Đề án Mỗi xã, phường một sản phẩm; tổ chức đối thoại với các doanh nghiệp, hợp tác xã và kêu gọi, khuyến khích đầu tư tư nhân trong lĩnh vực nông nghiệp, nông thôn trên địa bàn huyện. Hiện toàn huyện có 08 hợp tác xã và 36 tổ hợp tác đang hoạt động bước đầu đem lại hiệu quả.


Mạng lưới giao thông nông thôn trên địa bàn huyện Pác Nặm luôn được chú trọng đầu tư

Cùng với thúc đẩy sản xuất, huyện Pác Nặm thường xuyên quan tâm chỉ đạo đầu tư nâng cấp cơ sở hạ tầng phục vụ nông nghiệp, thực hiện lồng ghép các chính sách hỗ trợ phát triển, triển khai thực hiện Chương trình xây dựng nông thôn mới tại các xã; huy động các nguồn vốn đầu tư xây dựng, cải tạo và nâng cấp các công trình điện, đường, trường, trạm... Nhờ đó, đến nay, toàn huyện có gần 250 công trình thủy lợi, trong đó 152 công trình đã được xây dựng kiên cố, bán kiên cố đảm bảo diện tích tưới chủ động 1.310ha đất ruộng; 05/10 xã đạt chuẩn tiêu chí thủy lợi trong bộ tiêu chí nông thôn mới; mạng lưới giao thông nông thôn được đầu tư xây dựng từ nhiều nguồn lực, bảo đảm thông suốt 4 mùa tới các xã và cơ bản có đường đến trung tâm các thôn đảm bảo việc đi lại của nhân dân được thuận tiện; 86% số hộ dân được sử dụng điện lưới quốc gia; 100% xã có trạm bưu chính viễn thông, kết nối điện thoại và internet đảm bảo thông tin liên lạc thông suốt; 96,5% số hộ dân nông thôn được sử dụng nước sinh hoạt hợp vệ sinh; 10/10 trạm y tế xã đạt chuẩn quốc gia về y tế; 06 chợ tại trung tâm 06 xã đã cơ bản đáp ứng được nhu cầu trao đổi hàng hóa của nhân dân; trường học ở các xã được đầu tư xây dựng và sửa chữa, nâng cấp, mua sắm thiết bị hàng năm, đảm bảo phục vụ công tác dạy và học...

Các chính sách an sinh xã hội trên địa bàn huyện được triển khai đầy đủ, kịp thời. Hằng năm, 100% hộ nghèo, trẻ em dưới 6 tuổi được cấp thẻ bảo hiểm y tế; công tác cứu trợ đối với hộ thiếu đói, cấp học bổng cho học sinh thuộc hộ nghèo, hộ cận nghèo được quan tâm. Các địa phương đã thực hiện tốt quy chế dân chủ ở cơ sở qua đó phát huy tốt quyền làm chủ của nhân dân với phương châm “Dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra”; trực tiếp tham gia bàn bạc, giám sát quá trình thực hiện các vấn đề liên quan đến đời sống dân sinh như: Xây dựng đường giao thông nông thôn, nhà văn hóa và các công trình công cộng khác...

Bên cạnh những thành tựu đạt được, quá trình thực hiện Nghị quyết “tam nông” trên địa bàn huyện còn một số khó khăn, hạn chế. Tuy sản xuất nông nghiệp có bước phát triển nhưng chưa bền vững, đầu ra cho nông sản còn bếp bênh; năng suất, chất lượng cây trồng, vật nuôi còn thấp so với tiềm năng, chưa đáp ứng được so với yêu cầu phát triển nông nghiệp hàng hoá. Nông thôn chủ yếu là kinh tế hộ, kinh tế trang trại và kinh tế hợp tác chưa phát triển, quy mô còn nhỏ, sản lượng hàng hoá thấp. Số lượng làng nghề thủ công truyền thống và cơ sở chế biến sản phẩm nông, lâm nghiệp chưa phát triển. Việc tiếp thu và áp dụng khoa học kỹ thuật vào sản xuất của người dân còn hạn chế, hiệu quả chưa cao; tỷ lệ lao động nông thôn đã qua đào tạo nghề còn thấp…

Phát huy kết quả đã đạt được, thời gian tới, huyện Pác Nặm tiếp tục tổ chức thực hiện các dự án tái cơ cấu nông nghiệp gắn với liên kết sản xuất theo chuỗi giá trị cho các cây trồng, vật nuôi chủ lực của huyện; phát triển nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao gắn với chế biến và thị trường. Cùng với đó tập trung thực hiện Đề án “Mỗi xã, phường một sản phẩm” tỉnh Bắc Kạn giai đoạn 2018 - 2020 trên cơ sở phát triển các ngành nghề và dịch vụ đã có, đồng thời xây dựng các ngành nghề mới phù hợp với điều kiện và phát huy lợi thế của các địa phương, trên cơ sở các ý tưởng kinh doanh mới. Tiếp tục phát triển hệ thống hạ tầng cơ sở như: Giao thông, điện, thuỷ lợi, nước sinh hoạt, môi trường, công trình văn hoá xã, thôn... tạo tiền đề cho phát triển kinh tế - xã hội nông thôn, nâng cao đời sống của dân cư nông thôn. Đẩy mạnh thực hiện các chính sách giảm nghèo theo hướng bền vững, tăng khả năng tiếp cận của đối tượng thụ hưởng và sự tham gia của người nghèo.../.

Thu Cúc
Sign In