PublishingPortal - Block_BanTin_Toolbar

28/01/2021
Tăng cỡ chữ Giảm cỡ chữ
Giai đoạn 2020-2025, Bắc Kạn tập trung phát triển chế biến sản phẩm chè và miến dong
Nhằm tăng hiệu quả trong ngành sản xuất và chế biến chè, dong riềng của tỉnh theo hướng nâng cao giá trị gia tăng và phát triển bền vững, góp phần cơ cấu lại ngành nông nghiệp để tạo ra đột phá trong phát triển kinh tế - xã hội, giai đoạn 2020-2025, tỉnh Bắc Kạn xác định tập trung phát triển chế biến sản phẩm chè và miến dong.

 PublishingPortal - Block_BanTin_ViewData

Theo Kế hoạch Phát triển chế biến sản phẩm chè và miến dong trên địa bàn tỉnh Bắc Kạn được UBND tỉnh ban hành cuối năm 2020, Bắc Kạn đề ra mục tiêu phấn đấu đến hết năm 2025, tổng diện tích trồng chè đạt 2.500 ha. Trong đó, diện tích chè trung du 1.500 ha, sản lượng đạt 9.500 tấn; diện tích chè Shan tuyết 1.000 ha, sản lượng đạt 2.500 tấn chè búp tươi; diện tích trồng mới (chè Shan tuyết) là 453 ha; hằng năm, cải tạo, thâm canh tăng năng suất toàn bộ diện tích chè nhằm đảm bảo sản lượng thu hoạch 12.000 tấn; diện tích đạt các tiêu chuẩn về an toàn thực phẩm là 2.500 ha và có nhãn mác, bao bì sản phẩm; diện tích được chứng nhận VietGAP là 750 ha và truy xuất được nguồn gốc.

Đối với dong riềng, duy trì diện tích trồng hằng năm ổn định 800 - 1.000 ha, sản lượng đạt 59.000 tấn. Diện tích đạt các tiêu chuẩn về an toàn thực phẩm là 800 ha và có nhãn mác, bao bì sản phẩm miến dong, trong đó, diện tích được chứng nhận đạt tiêu chuẩn sản phẩm hữu cơ là 240 ha và truy xuất được nguồn gốc; đến năm 2025, xây dựng thành công thương hiệu miến dong Bắc Kạn.

Để thực hiện được mục tiêu trên, tỉnh Bắc Kạn xác định phải xây dựng được vùng nguyên liệu, nâng cao chất lượng sản phẩm chè và dong riềng. Cụ thể, đối với sản phẩm chè, thực hiện các giải pháp như áp dụng tiến bộ khoa học, công nghệ cao, sản xuất bền vững, sản xuất theo quy trình an toàn thực phẩm, VietGAP...; tăng hiệu suất sử dụng phân bón, giảm thuốc bảo vệ thực vật, vật tư nông nghiệp nhằm giảm chi phí, tăng năng suất, chất lượng, an toàn thực phẩm, giảm phát thải, bảo vệ môi trường; phát triển các cơ sở chế biến, củng cố các hợp tác xã, tổ hợp tác sản xuất chè.

Đối với dong riềng, khuyến khích ứng dụng các tiến bộ kỹ thuật trong trồng trọt và khoa học công nghệ trong chế biến, phấn đấu 100% sản lượng củ dong riềng được chế biến thành các sản phẩm miến dong, viên nang miến dong, miến dong ăn liền…. Áp dụng các tiêu chuẩn trong sản xuất để 100% sản phẩm miến dong đạt các tiêu chuẩn về vệ sinh an toàn thực phẩm, có nhãn mác, bao bì và truy xuất nguồn gốc. Tập trung thực hiện các quy trình kỹ thuật về sản xuất hữu cơ trong trồng trọt, phấn đấu đến năm 2025, có 30% sản phẩm miến đạt tiêu chuẩn sản phẩm hữu cơ. Cùng với đó, sẽ thực hiện hỗ trợ phát triển cơ sở chế biến như nâng công suất chế biến của cơ sở chế biến miến Nhất Thiện đưa sản lượng miến đạt trên 1.000 tấn/năm; đầu tư mở rộng cơ sở chế biến miến của Triệu Thị Tá để đạt sản lượng miến trên 200 tấn/năm; đồng thời duy trì các cơ sở chế biến hiện có đáp ứng được các tiêu chuẩn về môi trường... 

Để đạt được mục tiêu đề ra, hiện nay, ngành chức năng và các địa phương đang tích cực đẩy mạnh công tác tuyên truyền chủ trương, chính sách của tỉnh liên quan đến về phát triển các sản phẩm chè và dong riềng. Triển khai các giải pháp để phát triển vùng sản xuất nguyên liệu, công nghệ chế biến, xây dựng và quản lý thương hiệu chè, miến dong Bắc Kạn. Cùng với đó là tích cực quảng bá, xúc tiến thương mại và thực hiện có hiệu quả các chính sách hiện có để hỗ trợ cho người sản xuất tham gia đầu tư sản xuất, chế biến sản phẩm chè, dong riềng.../.

Nông Thị Cúc